Mạng Xã Hội 24h | Đăng tin

Thuý Kiều học nghề gì từ Tú Bà?

89 xem

Trong Kiều làm gì có Tú ông, chỉ có Tú bà, nên dĩ nhiên Thuý Kiều học nghề từ đó mà ra.

Cá nhân tôi, thú thiệt có thể khen “Truyện Kiều” có văn hay thì hay, Nguyễn Du lả lướt con chữ kiểu văn chương Bắc Hà rất giỏi, nhưng chưa bao giờ đọc hết tất cả từ đầu tới cuối, không có thích mấy.Tôi ghiền “Chinh phụ ngâm khúc” của Đặng Trần Côn, Đoàn Thị Điểm

Cách đây ba ngày có chép một đoạn Kiều,nhân tiện cũng nói rõ, vì mình muốn nói mà không nói có khi lại có gì đó không bình thường, thấy một số kẻ xỉa xói mạt sát cá nhân tôi thất kinh

Không phải tôi sợ các bạn nên viết bài này đâu, nhưng thấy đề tài cũng hay ,hay thì chơi thôi

Khi bàn về “cái quần” tôi có chép ra đoạn này

“Hồng quân với khách hồng quần
Đã xoay đến thế còn vần chữa tha”

Tôi giải thích Hồng Quân là một chàng trai, hồng quần là người đàn bà, ở đây là Kiều đang ở “lầu xanh” làm nghề, trai vô phòng chứ Trời nào vô

Lẽ dĩ nhiên nhiều người phản đối,”Hồng quân” xưa nay bị người ta mặc định đóng đinh là Ông Trời. Kêu ông Trời là “hồng quân” thì gọi người phụ nữ là “hồng quần” vì hai từ này có âm hưởng gần nhau mà nội dung đối lập nhau, Trời mới “xoay”

Cuộc đời Thúy Kiều Nguyễn Du thể hiện dưới dạng “tài mệnh”, “hồng nhan bạc mệnh” theo kiểu thiên mệnh

Mọi khổ đau tủi nhục của Kiều đều do trời định (Nhưng làm “gái” mà đổ thừa cho Trời e cũng không hay lắm)

“Bắt phong trần phải phong trần
Cho thanh cao mới được phần thanh cao”

“Nghĩ đời mà chán cho đời
Tài tình chi lắm cho trời đất ghen!”

“Ngẫm hay muôn sự tại trời
Trời kia đã bắt làm người có thân
Bắt phong trần phải phong trần
Cho thanh cao, mới được phần thanh cao…”

“Đã mang lấy nghiệp vào thân
Cũng đừng trách lẫn trời gần, trời xa”

Tuy nhiên lấy “Hồng quân” nghĩa Trời mà so với cái “quần hồng” của đàn bà,mà đang là “gái” trong “lầu xanh” thì câu thơ quá hỗn hào .Trời và gái “điế-m” à?

Thí dụ câu”Trời xanh quen thói má hồng đánh ghen” nghe còn tạm ổn,lấy “quần hồng” mà lôi Trời ra thì xấc xược quá

Quẻ Thuần Càn, hay còn gọi là quẻ Kiền tức Trời là quẻ số 1 trong Kinh Dịch,quẻ càn vi thiên hay còn gọi là quẻ kiền vi thiên

Bậc thánh nhân đứng đầu muôn vật, theo đạo Càn thì thiên hạ bình an vô sự

Coi Kim Dung ta thấy chiêu”Kháng long hữu hối”, nó chính là hào 6 của quẻ Càn trong Kinh Dịch, dịch là “Rồng bay lên quá cao, ắt có ăn năn”. Bay cao quá sẽ đụng sức nóng thiêu đốt, lộn cổ rớt xuống như diều đứt dây

Kêu là “Ông Trời” nhưng có nhiều lúc người Việt Nam có chút xem thường ông Trời khi bất mãn, kêu Trời là “Con Tạo” hoặc “Tạo Hóa”, cho con cóc là cậu ông trời!

” Cũng liều nhắm mắt đưa chân
Thử xem Con tạo xoay vần đến đâu
(Nguyễn Du)

Nguyễn Công Trứ cũng kêu Trời là “con tạo”

“Đố kỵ sá chi con tạo
Nợ tang bồng quyết trả cho xong”

Nhưng sanh thời Nguyễn Công Trứ rất ghét “Truyện Kiều”,ông khinh nó ra mặt

Bài “Vịnh Thuý Kiều” Nguyễn Công Trứ nói rằng ông khinh hành động đổ thừa “khổ ,vì hiếu là làm đ-ĩ” của Kiều ,ông cho rằng hành động của nàng là một lời sỉ nhục

“Từ Mã Giám Sinh cho đến chàng Từ Hải
Cánh hoa tàn đem bán lại chốn thanh lâu
Bấy giờ Kiều còn hiếu vào đâu
Mà bướm chán ong chường cho đến thế?
Bạc mệnh chẳng lầm người tiết nghĩa
Đoạn trường cho đáng kiếp tà dâm!
Bán mình trong bấy nhiêu năm
Đố đem chữ hiếu mà lầm được ai!
Nghĩ đời mà ngán cho đời!”

Kiều là “dâm” được nhiều nhà Nho xưa khẳng định

“Đàn ông chớ đọc Phan Trần
Đàn bà chớ đọc Thúy Vân Thúy Kiều”

Huỳnh Thúc Kháng làm bài thơ chửi Kiều nặng nề,chửi ai đọc Kiều

“Á cũ qua rồi, mới chửa Âu !
Học Kiều xúm xít bọn mày râu
Đã đem thân thế nương nhà thổ
Còn trách cha ông vụng kiếp tu
Một khúc Đoạn Trường khêu lửa dục
Mấy thiên Bạc Mệnh chác hơi sầu
Biết chăng, hỏi cụ Tiên Điền vậy
Muôn ác tà dâm, ấy sự đâu ?
Muôn ác tà dâm, ấy sự đâu
Tình đâu đâu, mà hiếu đâu đâu
Theo trai gác xó lời cha mẹ
Làm đĩ thân đành kiếp ngựa trâu
Nghiêng nưóc trận cười, gương mấy kiếp
Đắm mình bể sắc, tội nghìn thu
Tiên Điền cụ nghĩ mua vui vậy
Biết nỗi người sau dại thế ru ?

Biết nỗi người sau dại thế ru
Phong trào đưa giọng chuyện phong lưu
Vẩn vơ người ấy phường trăng gió
Đau đớn lòng ai cuộc bể dâu
Nòi giống khôn thiêng dân một nước
Anh hùng nhiều ít tiếng năm châu
Tiên Điền cụ có hay chưa nhỉ
Sách dạy ngày nay đĩ đứng đầu !
Sách dạy ngày nay đĩ đứng đầu
Xúm nhau sùng bái gái bên Tàu
Cột đồng Mã Viện xô chưa ngã
Sóng ác Kiều Nương lại đắm sâu
Ô điểm nghìn năm nhơ lịch sử
Báo chương phân nửa chuyện thanh lâu

Ai ơi, gọi cụ Tiên Điền dậy
Đừng để non sông chịu tiếng vu !
Đừng để non sông chịu tiếng vu
Phật nhà không lạy, lạy người Tàu
Trưng Vương đền cũ mùi hương lạnh
Triệu Ẩu bia còn nét chữ lu
Thiện chẳng thấy bày, bày những ác
Ơn kia không biết, biết chi cừu
Tiên Điền cụ biết thời nay nhỉ
Á cũ qua rồi, mới chửa Âu !”

Quả thực, Kiều mang quốc tịch China 100%.Tại vì Nguyễn Du lấy Kim Vân Kiều truyện, truyện chương hồi văn xuôi của Thanh Tâm Tài Nhân bên Tàu mà viết ra ,là dạng viết đè lên

Thành ra trong “Kiều” của Nguyễn Du có những “hoàn cảnh” chỉ có ở Tàu mà khó có ở Việt

Khái niệm “bán mình” vì cần tiền là dân tộc nào cũng có,nhưng người Viết rất “tế nhị” xưa nay

Lịch sử VN xưa nay cũng tế nhị vấn đề bán mình chuộc cha

Kiều bán mình chuộc cha thì gần như “thương hiệu”

Tiện thể nhắc,khái niệm “Bán thân chôn cha” thì trong lịch sử TQ nhiều lắm,song Việt Nam thì không hề có,dân tộc Việt nhân văn ở chổ này

Nhiều bạn hỏi,Thúy Kiều làm nghề gì?

Tú bà dạy nghề cho Thúy Kiều, cái đoạn này có luôn nha, mà nghề gì vậy? Xin thưa, đó là “nghề chơi”

“Vừa tuần nguyệt sáng gương trong
Tú bà ghé lại thong dong dặn dò
Nghề chơi cũng lắm công phu
Làng chơi ta phải biết cho đủ điều”
“Này con thuộc lấy nằm lòng
Vành ngoài bảy chữ, vành trong tám nghề
Chơi cho liễu chán hoa chê
Cho lăn lóc đá cho mê mẩn đời”

Thế nào là vành ngoài 7 chữ và vành trong 8 nghề ?

“Vành ngoài” là những cách đẩy đưa, cợt nhã, khều móc, khiêu gợi bằng ngôn ngữ, tình cảm, nói năng, hát xướng, liếc mắt đưa tình, ôm ấp nhẹ nhàng nũng nịu, là dùng tay “khiêu gợi”,”khiêu dâm” kích thích đàn ông

Còn ” vành trong” là nghệ thuật làm tình trên giường, các tư thế, những thủ đoạn làm khách “văng ra” cho sớm để gái mau lấy lại sức

Tú Bà giải thích:

“Mụ rằng: Ai cũng như ai
Người ta ai mất tiền hoài đến đây?”

Thiên hạ bỏ tiền tới lầu xanh “chơi” cái gì ha?

Trong lịch sử văn học VN,người mê” Kiều nhứt là ông Phạm Quỳnh

Phạm Quỳnh “dạy đời “,”bố đời” thiên hạ rằng:

“Một nước không thể không có quốc hoa. “Truyện Kiều” là quốc hoa của ta. Một nước không thể không có quốc tuý . “Truyện Kiều” là quốc túy của ta. Một nước không thể không có quốc hồn. “Truyện Kiều” là quốc hồn của ta…

Truyện Kiều còn tiếng ta còn có gì mà lo có gì mà sợ”

Phạm Quỳnh tạc vào sử Việt với câu “Truyện Kiều còn, nước ta còn”

Nhưng thú thực,lấy một cô gái làm “nghề” đó mà tiêu biểu cho văn học VN, cho người đàn bà VN thì e hơi …tủi thân

Kiều chỉ có giá trị về ngôn ngữ thơ chứ không thể là tác phẩm đại diện cho nền văn học của VN

“Chinh phụ ngâm” và “Kiều Nguyệt Nga” có
công, dung, ngôn, hạnh nhiều gấp vạn

Trong văn học xứ đông Lào, nếu soi kỹ sẽ thấy những năm đầu thế kỷ 20 đã có sự “ăn hỗn” khi sau này người ta lấy văn chương kiểu Bắc của Nam Phong tạp chí của Phạm Quỳnh làm chuẩn để nói văn chương Bắc là số 1

Học giả Nguyễn Văn Xuân viết vầy:

” …không gì mỉa mai hơn là học Phạm Duy Tốn, Nguyễn Bá Học, Nguyễn Trọng Thuật, cả Hoàng Ngọc Phách nữa, những nhà văn mà chính phê bình gia có tiếng là Vũ Ngọc Phan nhìn nhận là kém hơn Hồ Biểu Chánh”

Thực tế Hồ Biểu Chánh với cuốn tiểu thuyết đầu tay của ông “Ai làm được” ra đời năm 1912 cũng là cuốn tiểu thuyết đầu tiên ở VN ta .Văn Hồ Biểu Chánh rặc Nam Kỳ, từ dấu chấm phết, cách ăn nói tới ngọn cỏ, cơn gió cũng rặc Nam Kỳ

Những năm 1930 trước sự “xâm lăng” của kiểu văn chương hoa hòe hoa sói, đầu môi chót lưỡi từ Miền Bắc, khi các nhà văn hóa Nam Kỳ bị lai tạp ít nhiều thì Hồ Biểu Chánh (cùng Sơn Nam,Vương Hồng Sển…) vẫn cố thủ giữ rịt, kiên quyết giữ nguyên cách viết đậm đà hơi hám Nam Kỳ của mình

Nam Kỳ có Trương Vĩnh Ký, Trương Minh Ký, Huỳnh Tịnh Của, Trần Chánh Chiếu …

Gia Định báo là tờ báo đầu tiên của Việt Nam phát hành ngày 15/4/1865 tại Sài Gòn do một người Pháp làm chủ biên, đến tháng 9/1869 giao cho Trương Vĩnh Ký và sau là Huỳnh Tịnh Của làm chủ bút đến thăm 1907

Năm 1861 nhà in đầu tiên được xây dựng ở Sài Gòn là nhà in Hoàng gia (l’Imprimerie Impériale). Nam Kỳ là nơi có số lượng nhựt trình (báo) xuất bản nhiều nhứt VN

Dân Sài Gòn có thói quen đọc báo mỗi buổi sáng bên ly cafe.Và các kiosque bán báo xuất hiện đầu tiên cũng ở Sài Gòn, sau này có người bán báo dạo

Lục Tỉnh là cái nôi xuất hiện đầu tiên của chữ Quốc Ngữ, của các thể loại thơ, tiểu thuyết, văn chương và báo chí Quốc Ngữ đầu tiên ở Việt Nam

“Một tháng ở Nam Kỳ” Phạm Quỳnh phải thú nhận là :” Báo giới trong Nam Kỳ thạnh lắm, phát đạt hơn ngoài Bắc nhiều. Hiện nay có đến mười tờ báo bằng quốc ngữ.”

Nhưng cha nội này có máu Bắc, rốt cuộc vẫn phải xốc mé tự nâng mình lên

Phạm Quỳnh chê báo Nam Kỳ nhiều nhưng không …có chất lượng

(Trích)

“Một địa hạt Nam Kỳ mà bấy nhiêu tờ báo kể cũng đã nhiều lắm vậy. Cứ lấy cái “lượng” (quantité) mà xét thì thật đủ khiến cho Bắc Kỳ Trung Kỳ phải thẹn với Nam Kỳ rằng về đường ngôn luận còn chậm kém xa quá

Nhưng cái “phẩm” (qualité) có được xứng đáng với cái “lượng” không? Điều đó thì chưa dám chắc vậy

Xưa nay phàm cái gì muốn cho nhiều tất giá phải kém, không thể vừa nhiều vừa tốt cả được. Muốn giữ cho cái “phẩm” cao, tất phải hạn cái “lượng” lại mới được. Ấy công lệ từ xưa vẫn thế: nghề làm báo, nghề làm sách, có thể ra ngoài được cái công lệ ấy không? Thiết tưởng rằng không. Cho nên xét ra các đồng bào ta trong Lục tỉnh hình như có ý trọng cái “lượng” hơn cái “phẩm” vậy. Đó cũng là một điều khuyết điểm trong học giới báo giới xứ Nam Kỳ”

“Kiều” của Nguyễn Du cũng dính yếu tố Miền Nam đầu tiên

Trương Vĩnh Ký là người đầu tiên phiên âm truyện Kim Vân Kiều từ chữ Nôm sang chữ quốc ngữ năm 1875, Lục Vân Tiên cũng là do ông chuyển thể ra quốc ngữ

“Trăm năm trong cõi người ta,
Chữ tài chữ mạng khéo là ghét nhau!
Trải qua một cuộc bể dâu
Những điều trông thấy mà đau đớn lòng!
Lạ gì bỉ sắc tư phong
Trời sanh quen với má hồng đánh ghen
Kiều thơm lần dở trước đèn.
Phong tình cổ lục còn truyền sử sanh
Rằng năm Gia Tĩnh triều Minh
Bốn phương lẳng lặng hai kinh vững vàng
Có nhà viên ngoại họ Vương
Gia tư nghĩ cũng thường thường bậc trung
Một trai con thứ rốt lòng
Vương quan là chữ nối dòng nho gia
Đầu lòng hai ả tố nga
Túy Kiều là chị em là Túy Vân
Mai cốt cách tuyết tinh thần
Mỗi người một vẻ mười phân vẹn mười
Vân xem trang trọng tót vời
Khuôn lưng đầy đặn, nét người nở nang”

Những tác giả sau dựa vào bản của Trương Vĩnh Ký vuốt chữ hiện đại hơn mà thôi,vậy mà họ xóa luôn cái tên Trương Vĩnh Ký

Nói về “Thúy Kiều” một lần nữa

Người đàn bà Nam Kỳ xưa vốn đã có tư tưởng rất mở và cá tánh nhiều nếu so với đàn bà Trung và Bắc

“Đi đâu cho thiếp theo cùng
Đói no thiếp chịu lạnh lùng thiếp cam
Ví dầu tình có dở dang
Thì cho thiếp gọi đò ngang thiếp dzìa “

Nhưng mà “hiếu” kiểu Kiều thì ai cũng nhăn mặt,ra đường là lọt từ lầu xanh này tới lầu xanh kia.Có một Từ Hải cũng “ngu” mà dồn chàng vào chổ chết

Ngô Đức Kế viết rằng:

“Nguyễn Du dịch Kiều từ thời Gia Long; thế thì từ Gia Long về trước, khi chưa có Truyện Kiều thì nước ta không quốc hoa, không quốc tuý, không quốc hồn,thế thì cái văn tự vũ công sáng chói từ triều đinh, Lê, Lý, Trần ở đâu đem đến?”

Kiều Nguyệt Nga của Nguyễn Đình Chiểu là người con gái Việt hiền thục, truyền thống vẫn là sáng chói

” Trăm năm cho trọn đạo tòng
Sống sao thác vậy một chồng mà thôi”

Xưa nay hiểu “Kiều” có những định kiến áp sẳn ,rằng phải vậy vậy mà hiểu,nhưng tùy người đọc có những cái hiểu của người ta,làm gì nhau?

Tôi thích Hồng Quân là người đàn ông ,một thằng đàn ông sạch sẽ phấn chấn đi chơi gái,nó chính xác ngữ cảnh trong lầu xanh với một cô gái làm nghề bán thân

Được không?

Ai nghĩ Hồng quân là Trời, kể cả Nguyễn Du thì có gì đó mới không đàng hoàng

Nghĩ khác làm gì nhau? Chẳng phải Trương Vĩnh Ký dịch Quốc Ngữ là “Túy Kiều”,”Túy Vân” từ ban đầu đó hay sao?

st